Phần mềm kiểm tra ổ cứng máy tính CrystalDiskInfo mới nhất

Đĩa cứng máy tính dù mới hay cũ, chúng ta cũng cần biết tình trạng của nó như thế nào khi hoạt động, nhằm tránh các rủi ro mà lẽ ra có thể thấy trước, nhất là đĩa dùng chứa dữ liệu quan trọng. Bài này giới thiệu CrystalDiskInfo 5.6.2 – phần mềm có khả năng đánh giá tình trạng “sức khỏe” của ổ cứng một cách chính xác.

Download tại đây

crystaldiskinfo-5.6

HƯỚNG DẪN

CrystalDiskInfo cung cấp khá nhiều thông tin, sau đây là một số thông tin quan trọng:

– Tình trạng “sức khỏe” (Health Status): Khi chạy, ổ đĩa của bạn sẽ được thông báo một trong bốn trạng thái sau:

Good (nền xanh): Đĩa còn tốt.

Caution (nền vàng): Đĩa có vấn đề, CrystalDiskInfo đã “thấy” một số sector (cung từ – đơn vị vật lý lưu dữ liệu nhỏ nhất trên đĩa) bị lỗi. Dù đĩa vẫn còn sử dụng được, nhưng bạn nên lưu dự phòng dữ liệu và tiếp tục theo dõi.

Bad (nền đỏ): Có thể đầu đọc, motor bị mòn, bề mặt đĩa bị trầy xước, hoặc nhiều cung từ bị hư hỏng (bad sector)… Dấu hiệu này cho biết đĩa sắp hư, bạn cần chép hết dữ liệu qua đĩa khác và thay ổ đĩa.

Gray (nền xám): Không xác định được “bệnh”.

– Nhiệt độ (Temperature): Nếu dưới 49 độ C là bình thường; từ 50 – 55 độ C, ta nên tìm cách khắc phục như gắn thêm quạt làm mát bên trong thùng máy…; nếu nhiệt độ đĩa cứng lên trên 55 độ C là có vấn đề, có thể một bộ phận nào đó trong đĩa đang chịu ma sát rất lớn, đĩa có thể “chết” bất cứ lúc nào.

 Firmware: Hiển thị phiên bản của phần mềm lõi (phần sụn) được “ép” sẵn trong ổ cứng, phần mềm này sẽ được kích hoạt khi vừa có điện để điều khiển ổ cứng, tiến trình này xảy ra trước khi khởi động hệ điều hành.

– Buffer Size: Cho biết dung lượng vùng nhớ đệm của ổ cứng. Nhiệm vụ của vùng nhớ này là lưu các dữ liệu được truy xuất gần đây nhất từ đĩa cứng. Khi chương trình nào cần truy xuất dữ liệu từ ổ đĩa, nó sẽ kiểm tra trước tiên trong vùng nhớ đệm xem dữ liệu mình cần đang có sẵn không. Cơ chế này làm tăng sức mạnh và tốc độ của hệ thống.

– Thông tin về S.M.A.R.T.: S.M.A.R.T. (Self-Monitoring Analysis and Reporting Technology) là kỹ thuật tự kiểm tra, phân tích và báo cáo các trục trặc trên đĩa cứng. Khi phát hiện dấu hiệu hư hỏng có thể làm ổ cứng ngừng hoạt động, tính năng này sẽ đưa ra thông báo cho người dùng. Tùy theo hãng sản xuất ổ đĩa, các thông tin về kỹ thuật S.M.A.R.T. sẽ nhiều hay ít và có khác nhau. Thông thường, có khoảng 35 đặc tính về S.M.A.R.T. được cung cấp, giúp dò tìm khoảng 60% lỗi trong đĩa cứng.

Ngoài ra phần mềm này cũng xem được thông tin của ổ cứng gắn ngoài

THÔNG TIN BỔ SUNG

Tốc độ quay và cỡ bộ nhớ đệm càng lớn thì sẽ tốt hơn.
Tốc độ quay của ổ đĩa cứng

Tốc độ quay của đĩa cứng thường được ký hiệu bằng rpm (viết tắt của từ tiếng Anh: revolutions per minute) số vòng quay trong một phút.
Tốc độ quay càng cao thì ổ càng làm việc nhanh do chúng thực hiện đọc/ghi nhanh hơn, thời gian tìm kiếm thấp.

Các tốc độ quay thông dụng thường là:

  • 3.600 rpm: Tốc độ của các ổ đĩa cứng đĩa thế hệ trước.
  • 4.200 rpm: Thường sử dụng với các máy tính xách tay mức giá trung bình và thấp trong thời điểm 2007.
  • 5.400 rpm: Thông dụng với các ổ đĩa cứng 3,5” sản xuất cách đây 2-3 năm; với các ổ đĩa cứng 2,5” cho các máy tính xách tay hiện nay đã chuyển sang tốc độ 5400 rpm để đáp ứng nhu cầu đọc/ghi dữ liệu nhanh hơn.
  • 7.200 rpm: Thông dụng với các ổ đĩa cứng sản xuất trong thời gian hiện tại (2007)
  • 10.000 rpm, 15.000 rpm: Thường sử dụng cho các ổ đĩa cứng trong các máy tính cá nhân cao cấp, máy trạm và các máy chủ có sử dụng giao tiếp SCSI

Bộ nhớ đệm (Cache)

Cache là tên gọi của bộ nhớ đệm – nơi lưu trữ các dữ liệu nằm chờ các ứng dụng hay phần cứng xử lý. Mục đích của nó là để tăng tốc độ xử lý (có sẵn dùng luôn không cần tốn thời gian đi lùng sục tìm kéo về). Nói một cách bài bản, cache là một cơ chế lưu trữ tốc độ cao đặc biệt. Nó có thể là một vùng lưu trữ của bộ nhớ chính hay một thiết bị lưu trữ tốc độ cao độc lập. Có hai dạng lưu trữ cache được dùng phổ biến trong máy tính cá nhân là memory caching (bộ nhớ cache hay bộ nhớ truy xuất nhanh) và disk caching (bộ nhớ đệm đĩa). Bộ nhớ đệm đĩa sử dụng ngay bộ nhớ chính. Các dữ liệu được truy xuất gần đây nhất từ đĩa cứng sẽ được lưu trữ trong một buffer (phần đệm) của bộ nhớ. Khi chương trình nào cần truy xuất dữ liệu từ ổ đĩa, nó sẽ kiểm tra trước tiên trong bộ nhớ đệm đĩa xem dữ liệu mình cần đang có sẵn không. Cơ chế bộ nhớ đệm đĩa này có công dụng cải thiện một cách đáng ngạc nhiên sức mạnh và tốc độ của hệ thống. Bởi lẽ, việc truy xuất 1 byte dữ liệu trong bộ nhớ RAM có thể nhanh hơn hàng ngàn lần nếu truy xuất từ một ổ đĩa cứng. Người ta dùng thuật ngữ cache hit để chỉ việc dữ liệu được tìm thấy trong cache. Và hiệu năng của một cache được tính bằng hit rate (tốc độ tìm thấy dữ liệu trong cache).